CHỈ THỊ(05/CT-BYT) VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC
CHĂM SÓC SỨC KHỎE BÀ MẸ NHẰM GIẢM TỬ VONG MẸ

Hàng năm trên thế giới ước tính có trên 530.000 trường hợp tử vong bà mẹ, phần lớn các trường hợp tử vong này xảy ra ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, những năm gần đây, trung bình mỗi năm vẫn còn hàng nghìn bà mẹ tử vong liên quan đến mang thai và sinh đẻ, trong đó gần 80% có nguyên nhân trực tiếp là tai biến sản khoa mà các tai biến này có thể phòng ngừa và giải quyết được bằng các can thiệp phù hợp, ít tốn kém.
            Để bảo vệ, chăm sóc sức khỏe   bà mẹ và giảm tỷ lệ tử vong mẹ, ngày 6/11/1008, Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành Chỉ thị số 08/1998/CT-BYT về việc tăng cường dự phòng và cấp cứu các tai biến sản khoa. Ngày 28/11/2000 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 136/2000/QĐ-TTg ban hành Chiến lược Quốc gia về Chăm sóc sức khỏe sinh sản giai đoạn 2001-2010. Được sự quan tâm đầu tư, chỉ đạo của Đảng và chính quyền các cấp, trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản đã đạt được nhiều thành tích quan trọng. Tình trạng sức khỏe của bà mẹ được cải thiện và nâng cao rõ rệt. Tỷ suất tử vong mẹ trên toàn quốc đã giảm nhiều và liên tục nhưng còn có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, miền. Ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa tỷ suất tử vong mẹ còn rất cao.
            Nhằm tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, dự phòng và cấp cứu kịp thời các tai biến sản khoa góp phần giảm tử vong mẹ. Bộ trưởng Bộ Y tế ra chỉ thị số 05/CT-BYT (ngày 10/10/2009).
1.       Các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân có cung cấp dịch vụ sản phụ khoa:
a) Tăng cường chăm sóc trước sinh: Tuyên truyền, giáo dục vận động để các bà mẹ có thai được quản lý thai sớm, khám thai ít nhất 1 lần trong mỗi giai đoạn (3 tháng đầu, 3 tháng giữa, 3 tháng cuối) của thai kỳ; phát hiện sớm các nguy cơ và tai biến có thể xảy ra trong quá trình mang thai để xử trí hoặc chuyển tuyến kịp thời; tiêm phòng uốn ván đủ số mũi theo quy định; cung cấp viên sắt và axit folic; truyền thông, tư vấn cho các bà mẹ những kiến thức và thực hành chăm sóc thai nghén, lựa chọn nơi sinh phù hợp, dinh dưỡng đầy đủ và hợp lý để cả mẹ và con đều khỏe mạnh.
b) Tăng cường chăm sóc trong khi sinh: Thực hiện nghiêm chế độ vô khuẩn; theo dõi chặt chẽ trong suốt quá trình chuyển dạ đẻ, nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu nguy cơ cao. Thực hiện theo dõi chuyển dạ bằng biểu đồ chuyển dạ; đỡ đẻ đúng kỹ thuật, can thiệp thủ thuật, phẫu thuật đúng chỉ định, cấp cứu, chuyển tuyến kịp thời hoặc mời y tế tuyến trên xuống hỗ trợ tại chỗ trong các trường hợp cần thiết.
c) Tăng cường chăm sóc sau sinh: Thực hiện thường quy xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ; theo dõi tích cực trong 6 giờ đầu nhằm phát hiện sớm những bất thường của cả mẹ và con để xử trí kịp thời. Thực hiện tốt việc chăm sóc và theo dõi sản phụ ngày đầu và tuần đầu sau sinh.
2. Sở y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, y tế các ngành:
a) Xây dựng mục tiêu, nội dung và giải pháp thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và dân trí của từng vùng. Tập trung ưu tiên nguồn lực cho các địa bàn miền núi, vùng biển, đảo, ven biển, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để phụ nữ có thai có thể tiếp cận dễ dàng và kịp thời với các dịch vụ chăm sóc thai và sinh đẻ.
b) Củng cố, kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em; bố trí đủ số lượng cán bộ chuyên khoa phụ sản ở các tuyến y tế nhất là nữ hộ sinh, y sỹ sản nhi cho y tế cơ sở (tuyến huyện, xã); quan tâm đào tạo, sử dụng đội ngũ cô đỡ thôn bản hoặc y tế thôn bản được đào tạo về đỡ đẻ thường, đẻ sạch và đẻ an tòan ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa; tăng cường năng lực cho các bệnh viện huyện để có thể thực hiện chăm sóc sản khoa toàn diện (có thể mổ đẻ và truyền máu), dự phòng và xử trí tốt các tai biến sản khoa; chú trọng đào tạo và đào tạo nâng cao trình độ cả về chuyên môn và quản lý cho đội ngũ cán bộ; bổ sung trang thiết bị, cơ sở vật chất đủ điều kiện đáp ứng nhiệm vụ được giao của đơn vị.
c) Tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị trực thuộc thực hiện tốt các quy định của Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và các quy định của Bộ Y tế về nhiệm vụ quản lý và nhiệm vụ kỹ thuật trong các quy định của Bộ Y tế về nhiệm vụ quản lý và nhiệm vụ kỹ thuật trong các cơ sở khám chữa bệnh và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
d) Tăng cường cung cấp các biện pháp tránh thai có chất lượng để giảm có thai ngoài ý muốn. Những trường hợp có nhu cầu phá thai phải được cung cấp dịch vụ phá thai an toàn, đúng kỹ thuật; kiên quyết xử lý các cơ sở phá thai không có giấy phép hoặc phá thai vượt giới hạn cho phép.
3. Cục Quản lý khám, chữa bệnh: Làm đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan giám sát việc triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh” theo Quyết định số 1816/QĐ-BYT ngày 26/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Y tế; kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hướng dẫn thực hành bệnh viện đã ban hành trong lĩnh vực sản phụ khoa.
4. Bệnh viện Phụ sản Trung ương: Chịu trách nhiệm xây dựng nội dung, kế hoạch chỉ đạo tuyến về sản phụ khoa và chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện đối với các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra: chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng hướng dẫn chẩn đoán và xử trí cấp cứu các tai biến sản khoa, cơ số thuốc để xử trí tai biến sản khoa trình Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành, trên cơ sở đó tổ chức triển khai thực hiện.
5. Bệnh viện Từ Dũ – thành phố Hồ Chí Minh: Chịu trách nhiệm xây dựng nội dung, kế hoạch chỉ đạo tuyến về sản phụ khoa và chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiện đối với các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào.
Các bệnh viện được giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến có trách nhiệm tổng hợp báo cáo đột xuất cũng như báo cáo định kỳ (6 tháng, 12 tháng) các hoạt động chuyên môn và tai biến sản khoa gửi về Bộ Y tế (Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em và Cục Quản lý, khám chữa bệnh).
6. Vụ Sức khỏe Bà mẹ-Trẻ em: Phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng, rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy chế chuyên môn, quy chuẩn kỹ thuật thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản trình Bộ trưởng ban hành, trên cơ sở đó tổ chức triển khai thực hiện.
7. Vụ Khoa học và Đào tạo: Chủ trì, phối hợp với Vụ Sức khỏe Bà mẹ - Trẻ em xây dựng, rà soát, bổ sung và hoàn thiện nội dung chương trình, tài liệu, kế hoạch đào tạo bác sỹ chuyên khoa, chuyên khoa định hướng sản phụ khoa, đào tạo nữ hộ sinh; đào tạo liên tục cho bác sỹ, y sỹ sản nhi và nữ hộ sinh; đào tạo cô đỡ thôn bản hoặc y tế thôn bản biết đỡ đẻ thường để bổ sung cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa.
8. Vụ Tổ chức cán bộ: Làm đầu mối đề xuất và xây dựng chính sách, chế độ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt để sử dụng lâu dài và ổn định đội ngũ cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em, đặc biệt là nữ hộ sinh, y sỹ sản nhi và cô đỡ thôn bản.
9. Vụ Pháp chế: Chỉ đạo Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe trung ương xây dựng tài liệu, kế hoạch truyền thông giáo dục và đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục về chăm sóc sức khỏe bà mẹ trẻ em, kế hoạch hóa gia đình, phòng chống các tai biến sản khoa.
10. Thanh tra Bộ: Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan chỉ đạo tổ chức thanh tra việc chấp hành các quy chế, quy định chuyên môn, quy chuẩn kỹ thuật trong chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế.