TÁC ĐỘNG CỦA CUỘC SỐNG KHI TRẺ
TỚI SỨC KHOẺ KHI GIÀ
 

Những lựa chọn của một người khi còn trẻ sẽ có ảnh hưởng tới sức khoẻ của họ khi về già. Việc rèn luyện sức khoẻ, chế độ dinh dưỡng, hút thuốc và sử dụng đồ uống có cồn hay những quyết định khác như tiếp tục học lên cao hơn, có kết hôn hay không hoặc những trục trặc gặp phải với những người hàng xóm đều để lại hậu quả về sau. Bên cạnh đó, không chỉ những lựa chọn kể trên của một người khi ở độ tuổi trưởng thành có ảnh hưởng tới sức khoẻ của họ khi về già mà ngay cả những đặc điểm khi ở thời niên thiếu cũng có những tác động tương tự. Chương trình nghiên cứu hành vi xã hội của Viện lão khoa quốc gia đã hỗ trợ phân tích về các tác động của cuộc sống trước đây tới sức khoẻ của người cao tuổi. Những hiểu biết từ các phân tích này có thể hữu ích trong việc thiết kế các chương trình nhằm nâng cao sự lựa chọn của con người đối với bản thân và con cái họ.
Các cơ chế và phong tục tập quán
Có nhiều cơ chế và phong tục tập quán đa dạng, phức tạp theo đó những điều kiện trong giai đoạn đầu đời của một người (mang thai, mới sinh, trẻ nhỏ và vị thành niên) có thể tác động tới sức khoẻ của họ khi trưởng thành. Sức khoẻ của bố mẹ, đặc biệt là sức khoẻ của mẹ có vai trò quan trọng đối với sức khoẻ của đứa con và có thể tiếp tục có những ảnh hưởng cho tới khi trưởng thành. Các bệnh lây nhiễm khi còn trẻ cũng có thể đồng thời lý giải cho tình trạng sức khoẻ khi trưởng thành, theo những điều kiện nào đó, đối với điều kiện dinh dưỡng nghèo nàn và các bệnh truyền nhiễm trước, ngay sau khi sinh hoặc khi còn nhỏ có thể tác động tiêu cực tới sức khoẻ khi trưởng thành. Đối với trẻ em, trong năm đầu tiên sau khi sinh, trẻ phơi nhiễm với các bệnh lây nhiễm thì càng dẫn tới tỷ lệ tử vong cao hơn khi trưởng thành. Sức khoẻ yếu khi còn nhỏ cùng các điều kiện kinh tế xã hội bất lợi cũng đồng thời có những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khoẻ khi trưởng thành.
Vẫn chưa rõ ràng về tầm quan trọng của những yếu tố kể trên trong mối tương quan so sánh với các yếu tố khác như hành vi nguy cơ khi trưởng thành (hút thuốc, uống rượu, luyện tập, chế độ dinh dưỡng) hoặc thu nhập và giáo dục, là các yếu tố có tác động tới sức khoẻ khi trưởng thành. Bên cạnh đó, chúng ta cần hiểu kỹ hơn về tác động của các điều kiện kinh tế xã hội lớn hơn như kinh tế vĩ mô hoặc chính sách xã hội cũng có thể tác động tới các yếu tố nguy cơ khi còn nhỏ. Ví dụ, khi bị trầm cảm trong giai đoạn kinh tế suy thoái dẫn đến gia tăng số phụ nữ và trẻ em chịu điều kiện sống nghèo nàn, từ đó dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng nhiều hơn và phơi nhiễm với các căn bệnh cũng lớn hơn. Các chính sách xã hội trong một vài bối cảnh nào đó cũng tác động tới sức khoẻ của trẻ sơ sinh và sau đó là sức khoẻ khi trưởng thành.
Các điều kiện sống trước đây cho thấy sự khác biệt theo không gian và thời gian. Khi các điều kiện xã hội được cải thiện, mối đe doạ về dinh dưỡng cùng các bệnh lây nhiễm có thể mắc phải trong thời ấu thơ đã giảm tại nhiều nước và các đoàn hệ khi sinh có thể sống thọ hơn. Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em do vậy cũng được tăng cường bởi nguồn lực dành cho việc ứng phó tăng cường miễn dịch tăng lên và nguồn lực dành cho tăng trưởng và phát triển. Tuy nhiên, đối với một số quốc gia, việc giải quyết vấn đề dinh dưỡng yếu kém cùng các bệnh lây nhiễm, điều kiện kinh tế xã hội nghèo nàn và sức khoẻ yếu khi còn nhỏ tiếp tục là các thách thức lớn về sức khoẻ của người trưởng thành.
Sức khoẻ khi còn ấu thơ
Hoàn cảnh khi còn nhỏ của con người có thể tác động tới sức khoẻ của họ khi về già. Bất cứ điều gì từ những trải nghiệm mang tính tổn thương như thành viên trong gia đình qua đời hoặc những vấn đề lớn hơn như tiếp xúc với ô nhiễm môi trường, hút thuốc thụ động khi còn nhỏ cũng sẽ tác động tới sức khoẻ khi trưởng thành. Các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu 2 khía cạnh chính của thời thơ ấu: Sức khoẻ khi còn bé và tình trạng kinh tế xã hội, là hai yếu tố chính tác động tới sức khoẻ khi trưởng thành cũng như khi về già.
Theo các nghiên cứu trước đây, nơi sinh của một cá nhân có liên quan tới nguy cơ tử vong của người ấy khi trưởng thành và chiều cao của một người, là một chỉ số phán ảnh tình trạng dinh dưỡng, bệnh tật và môi trường sống khi còn nhỏ cũng đồng thời có liên quan tới tử vong khi trưởng thành của người đó, đặc biệt từ những bệnh về tim mạch. Đối với một số căn bệnh như lao phổi, bệnh xơ gan, ung thư gan, các bệnh tim mạch, các lây nhiễm qua đường hô hấp, viêm phế quản cũng là các bệnh nằm trong danh mục.
Các nghiên cứu gần đây cho thấy sự liên quan giữa thu nhập của bố mẹ, việc tiếp cận với giáo dục, địa vị xã hội và sức khoẻ yếu khi còn nhỏ. Điều này cũng phù hợp với những phát hiện trước đó, những trẻ em nghèo hơn thì có sức khoẻ yếu hơn khi còn nhỏ và học thức cũng kém hơn so với những đứa trẻ khác khoẻ mạnh hơn. Những kết quả này cũng bổ trợ thêm cho đề xuất rằng sức khoẻ khi còn nhỏ và tình trạng kinh tế, là yếu tố mang tính quyết định chính về sức khoẻ khi trưởng thành.
Sử dụng số liệu từ nghiên cứu về sức khoẻ và nghỉ hưu năm 1998 tại Mỹ, các nhà nghiên cứu thấy rằng đối với 6 thước đo đánh giá về thể chất, tinh thần, phúc lợi thì địa vị kinh tế xã hội cao hơn khi còn nhỏ có mối liên quan mật thiết tới sức khoẻ tốt khi trưởng thành. Điều này cũng cho thấy địa vị kinh tế xã hội của cha mẹ tác động tới sức khoẻ của con cái và sức khoẻ của con cái có liên quan tới những kết quả về lao động và học thức trong tương lai của chúng. Những kết quả về giáo dục và lao động, cùng với các yếu tố khác chịu tác động bởi địa vị kinh tế xã hội khi còn nhỏ, có tác động tới sức khoẻ sau này khi trưởng thành cũng như phúc lợi khi về già.
Tuy nhiên, xét từ khía cạnh tâm lý học và sức khoẻ tâm thần, một số trải nghiệm bất lợi khi còn nhỏ lại có thể giúp người ta có khả năng đối phó tốt hơn với những điều kiện khó khăn trong đời. Nói cách khác, những nghiên cứu gần đây cho thấy các vấn đề về sức khoẻ tâm thần dù chỉ xảy ra một lần khi còn nhỏ cũng có tác động khi người đó đến tuổi tới trường. Các vấn đề về sức khoẻ thể chất khi còn nhỏ có thể báo trước về sức khoẻ khi trưởng thành nhưng nếu những vấn đề này tiếp tục ở nhiều giai đoạn tiếp theo sẽ tác động tới việc học hành cũng như cuộc sống sau này.
Vị thành niên
Địa vị kinh tế xã hội khi trẻ thơ và vị thành niên ảnh hưởng đến các thói quen như hút thuốc, uống rượu, tiếp cận giáo dục và các nguy cơ khác gặp phải. Những hành vi và lựa chọn này thường không biểu lộ rõ khi còn là vị thành niên. Tác động của chúng tới sức khoẻ sẽ trở nên rõ ràng trong suốt quãng đời từ khi trưởng thành cho tới khi về già.
Vị thành niên là quãng thời gian dậy thì và phát triển mạnh, chế độ dinh dưỡng trong suốt thời gian này có ảnh hưởng lớn tới sức khoẻ sau này. Ví dụ, khoảng 40% các em gái bị yếu xương là do tác động trong những năm tháng vị thành niên. Mặc dù việc luyên tập thể dục, hút thuốc lá và các thói quen khác trong cuộc sống ảnh hưởng đến việc hình thành xương, nhưng những điều này không quan trọng với việc tiêu thụ hàm lượng canxi tương ứng. Quá trình phát triển xương đạt đỉnh cao trong giai đoạn vị thành niên, giúp bảo vệ chống lại việc mất xương, loãng xương và tiền mãn kinh ở phụ nữ. Nghiên cứu hồi cứu tại Trung Quốc về tiền mãn kinh ở phụ nữ cho thấy mật độ xương có liên quan tới lượng sữa sử dụng khi còn là vị thành niên. Phần lớn trẻ em gái không có đủ lượng canxi cần thiết mỗi ngày. Một nghiên cứu về phụ nữ nhập cư từ Đông Nam Á cho thấy các đặc điểm về cuộc sống của những người này trước khi nhập cư báo trước nguy cơ sau này.
Thời gian sinh
Bằng chứng cho thấy mức tử vong ở trẻ em đã giảm qua thời gian do vậy mức tử vong ở người trưởng thành cũng theo đó giảm xuống. Theo các nhà nghiên cứu các đoàn hệ khi sinh ít chịu các bệnh lây nhiễm, chấn thương, tổn thương khi còn nhỏ sẽ sống thọ hơn.
Một so sánh giữa đoàn hệ da đen và da trắng từ thập kỷ 1960 của thế kỷ trước cũng cho thấy tác động của năm sinh. Phụ nữ da đen sinh vào cuối thập kỷ 60 có tỷ lệ các yếu tố nguy cơ thấp hơn thì khi sinh con ít bị nhẹ cân hơn so với phụ nữ da đen sinh vào những năm đầu cùng thập niên. Một so sánh tương tự đối với phụ nữ da trắng sinh vào cuối thập kỷ 60 so với những người sinh vào đầu những năm cùng thập niên cho thấy những khác biệt nhỏ tương ứng với sự cải thiện ít hơn về tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh da trắng.
Địa vị kinh tế xã hội
Một nền tảng bất lợi của một người thường liên quan tới sức khoẻ yếu kém của người đó khi còn nhỏ và chúng có tác động lớn tới việc học hành, tích luỹ tài sản khi trưởng thành, tạo nên sự bất lợi về mặt kinh tế xã hội.
Số liệu từ cuộc nghiên cứu thay đổi cuộc sống của người dân Mỹ (1986-2002) tác động của giáo dục và thu nhập trong các giai đoạn khác nhau của vấn đề sức khoẻ cho thấy giáo dục tác động mạnh hơn so với thu nhập khi một cá nhân mắc phải các vấn đề về sức khoẻ. Nhiều nhà kinh tế tin rằng các cơ chế thông qua giáo dục tốt hơn được tích luỹ với tình trạng sức khoẻ tốt cho thấy những người càng được giáo dục tốt thì họ cũng hiểu biết tốt hơn, tiếp cận các thông tin mới về sức khoẻ và do vậy hưởng lợi từ công tác chăm sóc sức khoẻ. Đồng thời, những người có nền tảng giáo dục thấp hơn có xu hướng đối mặt với các nguy cơ về sức khoẻ nhiều hơn, bao gồm sức khoẻ, hút thuốc và không tập luyện. Những hành vi này sẽ tác động về mặt lâu dài đối với sức khoẻ.
Các nghiên cứu khác cho thấy giáo dục khi còn nhỏ có tác động lớn tới việc thể hiện nhận thức của một người về sau này. Tác động này có thể xảy ra bởi những người có giáo dục tốt có thể liên hệ với những người có giáo dục tốt khác do vậy tăng cường tích luỹ kinh nghiệm bản thân. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rõ hơn mối quan hệ giữa giáo dục và sức khoẻ của con người. Một nghiên cứu các ca sinh tại California cho thấy những bà mẹ khi sinh bị thiếu cân thì những đứa con của họ cũng bị thiếu cân. Sự "truyền lại" này càng thể hiện rõ hơn ở nhóm người nghèo. Sinh thiếu cân cũng có liên quan tới tình trạng kinh tế xã hội thấp kém và cứ thế tạo thành một vòng luẩn quẩn.
Nơi sống
Giáo dục, thu nhập và tình trạng việc làm của một cá nhân có tác động lớn tới sức khoẻ so với việc sống cạnh một hàng xóm bất lợi. Tuy nhiên, các cá nhân sống với những người hàng xóm không thoải mái đó có vẻ như phải trải qua tình trạng sức khoẻ kém, và đó là hậu quả do môi trường sống quanh đó mang lại. Những người hàng xóm này thường có cuộc sống dưới ngưỡng nghèo, những gia đình vắng đàn ông, không được giáo dục chu đáo hoặc phải đi thuê nhà do không có đủ tiền. Việc sống chung với những người hàng xóm như vậy không gây ra tác động trực tiếp tới sức khoẻ nhưng những căng thẳng, sợ hãi...do việc sống chung này có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ. Áp lực căng thẳng, sự sợ hãi làm tăng áp lực máu và lượng cholesterol, từ đó có thể gia tăng nguy cơ về tiểu đường, đột quỵ và các bệnh tim mạch.
Bên cạnh những tác động do hàng xóm mang lại, nhiều sự khác biệt về sức khoẻ xảy ra theo mức độ vùng miền. Ví dụ, có sự khác biệt về địa lý trong tỷ lệ người cao tuổi da trắng ở Mỹ bị gãy xương hông. Hơn thế nữa, nơi sống trước đây của một người cũng lý giải cho sự khác biệt mang tính cá nhân về việc gãy xương hông so với họ sống hiện tại. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa địa điểm sống trước đây với nguy cơ gãy xương hông ở người cao tuổi vẫn chưa rõ ràng. Các yếu tố này có thể liên quan trực tiếp tới địa lý thông qua các yếu tố như ánh sáng mặt trời, thời tiết hoặc liên quan gián tiếp từ sự khác biệt về nghèo đói, chế độ dinh dưỡng và việc sử dụng thuốc.

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên hệ giữa các điều kiện sống trước đây của một người khi còn nhỏ tới sức khỏe của họ khi trưởng thành. Trong thực tế, sức khoẻ cha mẹ, dinh dưỡng nghèo nàn hoặc nhiễm bệnh khi còn nhỏ, sinh ra trong nghèo túng hoặc sức khoẻ yếu khi còn nhỏ có những tác động tiêu cực tới sức khoẻ khi trưởng thành. Mặc dù những nghiên cứu này cung cấp những tư liệu có giá trị về những tác động của hoàn cảnh sống trước đây nhưng chưa thể hiện rõ ràng ở tình trạng sức khoẻ yếu khi trưởng thành. Bên cạnh đó, việc xác định được tầm quan trọng của các hoàn cảnh sống trước đó nhằm giảm bệnh tật và tử vong khi điều kiện xã hội thay đổi cũng như tác động của các chính sách xã hội cấp vĩ mô tới những trải nghiệm khi còn nhỏ cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.

TRUNG KIÊN biên dịch

Nguồn: PRB (4/2009), Impacts of early life on elderly health