HỘI THẢO VỀ CÔNG TÁC DS-KHHGĐ
 TẠI PHÚ YÊN VÀ KHÁNH HOÀ

Thực hiện chương trình hoạt động năm 2009, trong thời gian từ ngày 17-19/8/2009, Thường trực Uỷ ban về các vấn đề xã hội đã phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh Khánh Hoà, Phú Yên tổ chức Hội thảo Đại biểu dân cử khu vực duyên hải miền Trung-Tây Nguyên và tiến hành khảo sát tại 2 tỉnh để tìm hiểu về thuận lợi, khó khăn trong việc triển khai thực hiện pháp luật về DS-KHHGĐ. Hội thảo tập trung vào các vấn đề sau:
1. Kết quả thực hiện DS-KHHGĐ:
            Báo cáo của địa phương cũng như kết quả sơ bộ của Tổng điều tra Dân số năm 2009 cho thấy công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt nhiều thành tựu. Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế, tỷ lệ sinh giảm ở tất cả các vùng, kể cả các vùng miền núi, dân tộc. Tổng dân số Việt Nam vào thời điểm ngày 1/4/2009 đã thấp hơn so với số liệu hàng năm của Tổng cục thống kê. Số liệu cho thấy, công tác DS-KHHGĐ của nước ta 10 năm qua đã đạt thành tựu lớn.
            Bên cạnh thách thức trong công tác dân số như mất cân bằng giới tính khi sinh, khả năng đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho vị thành niên, người di cư, chuẩn bị cho xã hội có nhiều người già...thì vấn đề duy trì vững chắc thành quả của công tác DS-KHHGĐ vẫn phải được quan tâm đầu tư đúng mức. Tuy nhiên, hiện nay những vùng có mức sinh cao là địa bàn khó khăn, vùng kinh tế kém phát triển, vùng ven biển...và để đạt kết quả giảm sinh ở những vùng này cần mức đầu tư và chi phí cao hơn nhiều so với những địa bàn khác. Theo báo cáo, mỗi tỉnh hiện còn hàng chục ngàn cặp vợ chồng đã sinh 2 con một bề, hay có mong muốn sinh thêm con nên họ luôn sẵn sàng sinh con thứ 3 nếu lơi lỏng vận động KHHGĐ. Vì vậy tuy đã gặt hái thành tựu đáng kể trong những năm qua, song công tác DS-KHHGĐ ở Việt Nam vẫn đang gặp phải những thách thức lớn cần sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của các cấp ngành.
            Báo cáo của một số địa phương cho thấy công tác chăm sóc sức khoẻ BMTE chưa được quan tâm đúng mức, hầu như phụ thuộc vào các dự án nước ngoài, vì vậy việc chăm sóc sức khỏe bà mẹ khi sinh đẻ gặp nhiều khó khăn, nhất là ở các xã vùng miền núi, giao thông khó khăn, đó là một trong những nguyên nhân gây tử vong mẹ cao. Bên cạnh đó quy định pháp luật về chăm sóc trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh còn làm cho cơ quan chuyên môn ở địa phương lúng túng (từ tháng 10/2003 đến nay mới có duy nhất 1 chỉ thị của BYT về vấn đề này).
2. Về ổn định bộ máy, tổ chức làm công tác DS-KHHGĐ:
            - Theo báo cáo, đa số các tỉnh đã ổn định bộ máy làm công tác DS-KHHGĐ ở các cấp, song vẫn còn có sự khác nhau giữa các tỉnh về việc bố trí cán bộ dân số xã, cán bộ dân số cấp huyện. Có tỉnh bố trí 5-6 cán bộ dân số cho tuyến huyện, song cũng có địa phương chỉ bố trí 3 người/huyện và tuyên bố UBND tỉnh không còn nợ nần gì ngành dân số. Nhìn chung gần 50% cán bộ dân số tuyến huyện là mới và 100% số trạm trưởng y tế xã cần được hướng dẫn, tập huấn về quản lý hoạt động công tác DS-KHHGĐ.
            Riêng Khánh Hoà, tỉnh đã quyết định chuyển toàn bộ cán bộ dân số xã sang trạm y tế xã và xếp hưởng lương hệ số 1,18. Tuy nhiên, đa số các tỉnh đều chưa chuyển đổi cán bộ dân số xã về trạm y tế (theo thông tư 05 của BYT) vì cho rằng cần có hướng dẫn của ngành nội vụ. Các địa phương cho rằng bố trí ở UBND xã hay trạm y tế xã, hoạt động của cán bộ dân số xã hiện nay đã ổn định và càng ngày càng có hiệu quả.
- Chế độ với đội ngũ cộng tác viên dân số (CTV) đang từng bước được cải thiện, tuy nhiên vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay CTV dân số và kiêm nhiệm các chức danh khác (như CTV y tế thôn bản, cán bộ phụ nữ thôn, bản), tuy vậy một số chức danh kiêm nhiệm cũng không có phụ cấp. Tại nhiều tỉnh, CTV chỉ được hưởng hỗ trợ đúng bằng quy định của chương trình mục tiêu quốc gia (50.000đ/tháng), rất ít tỉnh quan tâm hỗ trợ thêm (Phú Yên hỗ trợ thêm 30.000đ/tháng từ đầu năm 2009). Vì vậy số CTV thay đổi thường xuyên và hiệu quả hoạt động chưa cao gây ảnh hưởng đến mục tiêu của công tác DS-KHHGĐ.
            - Tuy mới chỉ làm việc tại 2 xã, đoàn nhận thấy đã có tình trạng UBND cho rằng hiện nay họ đã hết trách nhiệm với công tác DS-KHHGĐ vì đã bàn giao cán bộ, công tác viên dân số cho trạm y tế xã. Đây là điều cần chấn chỉnh, bởi vì nhiều năm qua đã cho thấy công tác DS-KHHGĐ là cuộc vận động lớn, nếu thiếu sự chỉ đạo, lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền thì không thể thành công.
            - Theo báo cáo của tỉnh Quảng Ngãi, chi cục DS-KHHGĐ Quảng Ngãi đã tính toán, giải trình và đưa ra bằng chứng khoa học về việc ước tính tiết kiệm được khoảng 5000 tỷ đồng nhờ thực hiện DS-KHHGĐ nhiều năm qua ở tỉnh. Vì vậy lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi rất quan tâm chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ. Hiện nay thu nhập của cán bộ dân số xã ổn định ở mức 1,5 triệu đồng/tháng (trong khi các tỉnh khác các bộ dân số xã chỉ thu nhập khoảng 600.000-800.000 đ/tháng), nhờ vậy công tác DS-KHHGĐ ở Quảng Ngãi đạt được kết quả tốt.
3. Về tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh:
            Báo cáo của chuyên gia cũng như của hầu hết các tỉnh cho thấy tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (SRB) ở mức cao, bình quân ở cả nước là 112 bé trai/100 bé gái mới sinh (năm 2008), tương đương với tình trạng ở Trung Quốc năm 1990. Có tỉnh, SRB lên đến 125 và đã được cơ quan chuyên môn tổ chức khảo sát đánh giá và khẳng định. Tình trạng mất cân bằng SRB là đáng báo động trên phạm vi cả nước, cần có sự quan tâm của nhà nước và xã hội.           
            Hiện nay, Tổng cục DS-KHHGĐ đang triển khai đề án can thiệp thí điểm ở 11 tỉnh (thời kì 2009-2011) để tác động nhằm tiến tới SRB trở về mức bình thường, tuy nhiên các chuyên gia cho rằng đây là nhiệm vụ cực kỳ nan giải vì các cặp vợ chồng vừa sinh ít con để thực hiện KHHGĐ vừa bị tác động nặng nề của tâm lý ưa thích con trai để nối dõi dòng họ và gia đình.
            Vì vậy, bên cạnh các biện pháp cơ bản là tuyên truyền vận động nâng cao nhận thức của cán bộ và nhân dân cần có các quy định pháp luật và giải pháp về an ninh xã hội cho người già, người sinh con gái, các chế độ ưu đãi với bé gái (phụ cấp, được cộng điểm khi thi Đại học, hỗ trợ khi đi học...) cũng như biện pháp để thực thi quy định pháp luật về bình đẳng giới. Các giải pháp tổng hợp để kiểm soát tình trạng lạm dụng siêu âm phục vụ lựa chọn giới tính khi sinh cần được nghiên cứu áp dụng sớm.
4. Một số kiến nghị:
4.1. Với Quốc hội:
            - Một số chỉ tiêu liên quan đến dân số và sức khoẻ BMTE (như chỉ tiêu giảm tỷ lệ sinh thô, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng hàng năm) nên thay bằng chỉ tiêu khác phù hợp hơn với tình hình thực tế hiện nay. Ví dụ chỉ tiêu giảm tỷ lệ sinh thô có thể thay thế bằng chỉ tiêu giảm số người sinh con thứ 3; chỉ tiêu giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thay bằng giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng thể còi cọc để đạt được mục đích nâng cao chất lượng dân số trong thời kì mới.
            - Dành thêm nguồn lực cho công tác DS-KHHGĐ, bởi vì hiện nay vùng có tỷ lệ sinh cao là những nơi có điều kiện KT-XH khó khăn, vùng đặc thù (ngư dân ven biển, ảnh hưởng yếu tố tôn giáo) rất khó khăn để thực hiện giảm sinh, yêu cầu chi phí cao.
            - Khi ban hành tuổi Người cao tuổi nên xem xét quy định chế độ trợ cấp đối với người già (60 trở lên, không hưởng BHXH, trợ cấp XH) chỉ sinh 2 con gái, đây là một trong những giải pháp mà nhiều quốc gia đang áp dụng nhằm giảm tình trạng mất cân bằng giới tình khi sinh do các gia đình tìm mọi biện pháp để lựa chọn sinh con trai.
4.2. Với Chính phủ:
            - Sớm ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số năm 2003; chỉ đạo các bộ ngành có các giải pháp tổng thể để ngăn chặn trình trạng lựa chọn giới tính dẫn đến mất cân bằng giới tính khi sinh.
            - Bổ sung kinh phí đầu tư trong Chương trình mục tiêu quốc gia về DS-KHHGĐ để hoàn thiện cơ sở vật chất của một số cơ quan DS-KHHGĐ cấp huyện, nhất là đối với huyện đang gặp khó khăn trong công tác DS-KHHGĐ.
            - Chỉ đạo Bộ Y tế và Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất để ổn định đội ngũ cán bộ chuyên trách dân số xã.
            - Chỉ đạo các tỉnh/thành phố nhắc nhở UBND cấp huyện và xã nhằm tránh tình trạng sau khi UBND xã, huyện, bàn giao cán bộ chuyên trách dân số và các cộng tác viên dân số cho ngành y tế coi như UBND các cấp hết nhiệm vụ chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ.
            - Tăng cường đầu tư và sử dụng các biện pháp tổng hợp về kinh tế, xã hội (CSSK và KHHGĐ) để hỗ trợ một số dân tộc quá ít người và đang có nguy cơ suy giảm theo quy định của Pháp lệnh dân số.
c. Với Bộ Y tế:
            - Tăng cường kiểm tra, thanh tra trong việc thực hiện chính sách và pháp luật dân số, trong đó có các quy định liên quan để đảm bảo cân bằng giới tính, hướng dẫn các tỉnh (không thuộc danh sách 11 tỉnh triển khai thí điểm can thiệp mất cân bằng giới tính khi sinh) thực hiện một số biện pháp cơ bản tiến tới đảm bảo cân bằng giới tính khi sinh.
            - Nghiên cứu xây dựng và trình ban hành văn bản pháp luật chăm sóc sức khỏe BMTE, vị thành niên để phục vụ nâng cao chất lượng dân số, sớm ban hành chương trình đào tạo cán bộ dân số để tạo điều kiện cho các địa phương chuẩn hoá cán bộ dân số xã.
            - Phối hợp cùng Bộ tài chính xem xét lại một số quy định của Thông tư 32/2008 TTLT-BYT-BTC về hướng dẫn sử dụng kinh phí thuộc CTMT quốc gia, trong đó nên quy định rõ CTMTQG không chi kinh phí để mua thuốc thiết yếu phục vụ điều trị bệnh phụ khoa cho chị em, tạo cơ sở pháp lý để quỹ BHYT chi trả số tiền này cho những người có thẻ BHYT.
            - Kết quả sơ bộ của Tổng điều tra Dân số 4/2009 đã cho thấy công tác DS-KHHGĐ đạt nhiều thành tựu, tuy nhiên còn đang nhiều thách thức vì phải tiếp tục giảm sinh để duy trì vững chắc mức sinh thay thế, nhu cầu nguồn lực khá lớn phục vụ công tác KHHGĐ ở các vùng khó khăn, miền núi dân tộc, vùng có yếu tố tôn giáo, ven biển. Vì vậy trong định hướng chiến lược dân số cũng như định hướng tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng cần tránh tình trạng quá lạc quan, gây hiểu lầm cho xã hội cũng như khó khăn cho các địa phương, nhất là ở những nơi vẫn chưa quan tâm nhiều đến công tác DS-KHHGĐ.