THÔNG CÁO BÁO CHÍ
VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 9 THÁNG NĂM 2009
 

Sau một năm rơi vào tình trạng khủng hoảng tài chính trầm trọng, đến nay kinh tế thế giới đã có dấu hiệu phục hồi với các mức độ khác nhau. Trong khi kinh tế Mỹ chuyển biến chậm; phục hồi của các nền kinh tế châu Âu chưa rõ nét thì châu Á đang là điểm sáng tại thời điểm này với tăng trưởng quý II/2009 của Nhật Bản và Trung Quốc dự tính là 0,9% và 7,9%. Ở trong nước, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các ngành, các cấp triển khai thực hiện đồng bộ Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11/12/2008 và nhiều Nghị quyết quan trọng khác nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát được Quốc hội thông qua trong Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19/6/2009 tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XII, nên nền kinh tế nước ta đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất, kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2009 đạt được kết quả rất đáng khích lệ và tiếp tục có những bước phát triển mới khả quan.
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Dân số
Theo kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số cả nước tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85,8 triệu người. Tốc độ tăng dân số bình quân thời kỳ 1999-2009 là 1,2%. Trong tổng dân số, dân số thành thị 25,4 triệu người, chiếm 29,6% tổng dân số; dân số nông thôn 60,4 triệu người, chiếm 70,4%; dân số nam 42,5 triệu người; dân số nữ 43,3 triệu người. Tỷ số giới tính của dân số năm 2009 ở mức 98,1 nam trên 100 nữ.
2. Hỗ trợ thiệt hại do thiên tai và bảo đảm đời sống dân cư
Trong 9 tháng, thiên tai xảy ra đã làm 141 người chết và mất tích; 135 người bị thương; 800 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 33 nghìn ngôi nhà bị sạt lở; hơn 100 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập nước, hư hỏng, trong đó trên 13 nghìn ha bị mất trắng (chưa có kết quả thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra). Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra ước tính 1383 tỷ đồng. Tổng số tiền cứu trợ cho các gia đình bị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 9 tháng là 124,9 tỷ đồng và 27,4 nghìn tấn gạo, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 105,5 tỷ.
Kết quả thực hiện các chương trình và dự án hỗ trợ của Chính phủ để thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội đã góp phần bảo đảm ổn định đời sống dân cư, tình trạng thiếu đói giáp hạt ở khu vực nông thôn đã giảm đáng kể. Trong 9 tháng năm 2009, số lượt hộ thiếu đói giảm 40,8% và số lượt nhân khẩu thiếu đói giảm 37,6%. Từ đầu năm, các hộ thiếu đói đã được hỗ trợ 33 nghìn tấn lương thực và trên 41 tỷ đồng.              
Đời sống của bộ phận những người làm công ăn lương cũng được cải thiện đáng kể, mức lương tối thiểu đã tăng 20%, từ 540 nghìn đồng/tháng lên 650 nghìn đồng/tháng theo Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ. Cũng theo Nghị định này, trợ cấp hàng tháng của những đối tượng hưởng lương hưu cũng được tăng thêm 5%. Ngoài ra trong 4 tháng đầu năm, những cán bộ viên chức có hệ số lương dưới 3,0 cũng được phụ thêm 90 nghìn đồng mỗi tháng.
3. Giáo dục, đào tạo
a. Giáo dục
Kết thúc năm học 2008-2009, cả nước có 765,1 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, đạt 83,8% và 52,8 nghìn học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học, đạt 39,6%. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông cao là: Nam Định 98,3%; Hà Nam 97,4%; Thái Bình 96,9%; thành phố Hồ Chí Minh 94,6%; Bắc Ninh 94,1%; Hải Phòng 93,7%; Lâm Đồng 93,4%.
Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn của mẫu giáo chiếm 94,7% tổng số giáo viên mẫu giáo; tiểu học chiếm 98%; trung học cơ sở chiếm 97,5% và trung học phổ thông chiếm 97,8%. Phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia cũng đạt được kết quả quan trọng. Tính đến tháng 8/2009, cả nước có 1644 trường mầm non; 5254 trường tiểu học; 1573 trường trung học cơ sở và 201 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
Theo số liệu sơ bộ, đầu năm học 2009-2010, cả nước có 580 nghìn trẻ em được gửi nhà trẻ, tăng 17,2% so với năm học trước; 2890 nghìn trẻ em học mẫu giáo, tăng 4,2%; 6840 nghìn học sinh tiểu học, tăng 1,4%; 5930 nghìn học sinh trung học cơ sở, tăng 7,2% và 3181 nghìn học sinh trung học phổ thông, tăng 6,3%.
b. Đào tạo
Trong kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2009, cả nước có 1614,7 nghìn lượt thí sinh dự thi, giảm 3% so với kỳ thi năm 2008, bao gồm 1261,9 nghìn lượt thí sinh dự thi đại học, tăng 1,2% và 352,8 nghìn lượt thí sinh dự thi vào hệ cao đẳng, giảm 15,3%.
Công tác đào tạo nghề đang được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư. Mạng lưới các cơ sở dạy nghề phát triển mạnh ở các địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Tính đến cuối tháng 6/2009, cả nước có 102 trường cao đẳng nghề, tăng 10% so với thời điểm cuối năm 2008; 270 trường trung cấp nghề, tăng 8% và 711 trung tâm dạy nghề, tăng 3%. Số học sinh được tuyển mới vào các trường và trung tâm dạy nghề trong 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 1645 nghìn lượt người, tăng 7% so với năm 2008, bao gồm 75 nghìn lượt học sinh cao đẳng nghề; 230 nghìn lượt học sinh trung cấp nghề và 1340 nghìn lượt học sinh sơ cấp nghề.
4. Y tế và chăm sóc sức khoẻ dân cư
Trong 9 tháng, cả nước có 57,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 44 trường hợp đã tử vong; 5 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, tăng 2,6%; 700 trường hợp viêm não vi rút, tăng 27,5%, trong đó 15 trường hợp tử vong; 1,1 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn, gấp 2 lần và 232 trường hợp viêm màng não do mô cầu, giảm 33,1%.
Dịch cúm A (H1N1) vẫn đang diễn biến phức tạp với tốc độ lây lan nhanh, đặc biệt trong khu vực trường học. Tính đến ngày 28/9/2009 cả nước ghi nhận có 8605 trường hợp dương tính với cúm A (H1N1), trong đó 14 người đã tử vong. Số bệnh nhân đã khỏi và ra viện là 6736 người, các trường hợp còn lại hiện đang được cách ly, điều trị tại các bệnh viện, cơ sở điều trị, giám sát cộng đồng trong tình trạng sức khỏe ổn định.
Số trường hợp nhiễm HIV/AIDS tại các địa phương vẫn tiếp tục gia tăng. Tính từ ca phát hiện đầu tiên cho đến ngày 20/9/2009, trên địa bàn cả nước đã có 197,5 nghìn trường hợp nhiễm HIV/AIDS, trong đó 77,3 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 43,8 nghìn người đã tử vong do AIDS.
5. Tai nạn giao thông
      Tính chung 8 tháng năm 2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8197 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7694 người và làm bị thương 5127 người, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm 94% về số vụ; 96% về số người chết và 96% về số người bị thương. So với cùng kỳ năm 2008, số vụ tai nạn giao thông giảm 3,8%; số người chết giảm 0,6% và số người bị thương giảm 7,7%. Bình quân một ngày trong 8 tháng năm 2009, trên địa bàn cả nước xảy ra 34 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 21 người.
Kết luận: Trong bối cảnh khó khăn của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2009 của nước ta vẫn đạt được kết quả tích cực. Các cân đối vĩ mô được duy trì ở mức hợp lý; sản xuất công nghiệp phát triển; sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng vẫn giữ được mức tăng khá; công tác an sinh xã hội được tăng cường; củng cố lòng tin của nhân dân. Những kết quả đạt được trong 9 tháng qua thể hiện sự nỗ lực và cố gắng rất lớn của Đảng, Chính phủ, của cộng đồng doanh nghiệp, các tập đoàn và của mỗi người dân; là kết quả của sự thống nhất đồng thuận trong hành động của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương. Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong 9 tháng, với những thuận lợi và khó khăn của nền kinh tế từ nay đến cuối năm, có thể dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm 2009 đạt 5-5,2%. Để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội cả năm 2009, một số vấn đề chủ yếu sau đây cần được chú trọng trong những tháng tiếp theo:
Một là, khủng hoảng kinh tế thế giới là thời kỳ nền kinh tế trong nước bộc lộ rõ nhất những yếu kém nội tại, đây là thời điểm chúng ta phải chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để nhanh chóng thực hiện cấu trúc lại nền kinh tế trong sự gắn kết chặt chẽ với cấu trúc lại doanh nghiệp. Theo đó, nhà nước cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho cấu trúc lại doanh nghiệp, đồng thời đẩy nhanh quá trình cải cách thủ tục hành chính liên quan đến phát triển doanh nghiệp. 
Hai là, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế theo hướng thực hiện tái cơ cấu vốn đầu tư. Tập trung giải ngân có hiệu quả các nguồn vốn xây dựng cơ bản để bảo đảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, đồng thời vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Khuyến khích đầu tư áp dụng công nghệ mới và hiện đại vào sản xuất kinh doanh.
Ba là, phải tạo ra sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế thông qua các giải pháp kích cầu với bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô. Theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường thế giới và trong nước, nhất là diễn biến giá cả các mặt hàng quan trọng ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống dân cư (dầu thô, xăng dầu, sắt thép...) để có chính sách phù hợp. Thực hiện điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và thận trọng trên cơ sở các dự báo tốt về diễn biến kinh tế vĩ mô, diễn biến tiền tệ, tín dụng nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán, phòng ngừa lạm phát cao trở lại.
Bốn là, trong bối cảnh tăng trưởng chưa bền vững của kinh tế thế giới, cùng với việc tiếp tục thực hiện chính sách tăng trưởng hướng tới xuất khẩu, trong thời gian tới Chính phủ cần chú trọng chính sách khuyến khích tiêu dùng hàng hoá sản xuất trong nước; lấy thị trường nội địa làm điểm tựa để phát triển. Phấn đấu nâng chất lượng hàng Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế; giữ thương hiệu và uy tín một số hàng hóa chủ lực, sắp xếp lại cơ cấu hàng hóa nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Xây dựng chiến lược sản xuất nguyên phụ liệu để làm hàng xuất khẩu và cung ứng cho thị trường nội địa.
Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đến các vùng sâu, vùng xa; triển khai công tác an sinh xã hội cùng với kiểm tra, giám sát chặt chẽ để người dân có điều kiện tiếp cận đầy đủ và kịp thời hơn với những vấn đề liên quan trực tiếp tới sản xuất và đời sống.
Sáu là, đối với khu vực nông thôn phải tập trung nghiên cứu, đề ra các chính sách và giải pháp về dạy nghề cùng với hỗ trợ tín dụng, giống cây, con, phương tiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để khuyến khích các hộ gia đình phát triển sản xuất, tạo thu nhập và có cuộc sống ổn định.
Bảy là, tiếp tục kiểm tra, giám sát chặt chẽ các doanh nghiệp thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ nhằm bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Đánh giá đầy đủ và toàn bộ những mặt được và chưa được trong việc triển khai thực hiện các chính sách, làm cơ sở cho việc ban hành mới hoặc điều chỉnh chính sách, giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục kích thích sản xuất và hạn chế những vấn đề tiêu cực nảy sinh. 
Nguồn: Tổng cục Thống kê. Thông cáo báo
chí về tình hình kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2009