NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, KỸ NĂNG

VÀ NGUYỆN VỌNG CỦA SINH VIÊN VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HIV

ThS. NGUYỄN THỊ VŨ THÀNH*

 


*Những số liệu của Bộ Y tế cho thấy số người nhiễm HIV vẫn tiếp tục gia tăng mạnh và chủ yếu ở nhóm tuổi trẻ. Tuy số người nhiễm HIV đã được phát hiện vẫn tập trung chủ yếu tại nhóm nghiện chích ma tuý (50%) và nhóm phụ nữ bán dâm nhưng trong thực tế, thanh niên là những nhóm người dễ tổn thương nhất trong đại dịch này thông qua các hành vi tình dục không an toàn hay dùng chung các dụng cụ tiêm chích, xuyên da không được tiệt trùng. Thống kê của Bộ Y tế cho thấy 60% người nhiễm HIV nằm trong độ tuổi dưới 30.

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy thanh niên là nhóm dễ có các hành vi nguy cơ cao, nhất là hành vi quan hệ tình dục không an toàn với các loại bạn tình, trong đó cả với gái mại dâm. Việc thanh niên nam nữ có quan hệ tình dục trước hôn nhân là khá phổ biến, ngay cả trong các trường đại học hay trung học chuyên nghiệp[1].

Bài này giới thiệu nghiên cứu nhằm xác định những thông tin và số liệu cần thiết về nhóm đối tượng thanh niên sinh viên năm thứ nhất, thứ hai và thứ ba trong 3 trường đại học tại Hà Nội nhằm đề ra các khuyến nghị cần thiết cho các hoạt động can thiệp của dự án Phòng lây nhiễm HIV cho sinh viên.  

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

- Đánh giá kiến thức, thái độ của sinh viên về  HIV/AIDS, tình dục, sức khoẻ sinh sản và kỹ năng thực hành các hành vi an toàn.

- Xác định nhu cầu chăm sóc sức khoẻ, thực hiện các hành vi an toàn và dự phòng lây nhiễm HIV/STD của sinh viên.

- Đề xuất những giải pháp hiệu quả cho các hoạt động về dự phòng lây nhiễm HIV cho sinh viên, trong đó nhấn mạnh không quan hệ tình dục và chung thuỷ.

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Đối tượng nghiên cứu: sinh viên (SV) của 03 Trường đại học tại Hà Nội nằm trong chương trình dự án phòng lây nhiễm HIV cho sinh viên năm 2006 (trong nghiên cứu này gọi tắt là Trường 1, Trường 2 và Trường 3).

- Cỡ mẫu: Nghiên cứu định lượng: 450 sinh viên; Nghiên cứu định tính: 150 đối tượng bao gồm sinh viên, giáo viên.

- Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu định lượng: Phát vấn tự điền theo bộ câu hỏi có cấu trúc (450 phiếu); Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu (24 cuộc), thảo luận nhóm (12 cuộc)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

1. Đặc điểm chung của các nhóm đối tượng khảo sát

1.1. Tuổi và giới của đối tượng khảo sát

Trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu là sinh viên năm thứ 1,2 và 3 hiện đang học tại 03 trường đại học. Khoảng một nửa đối tượng nghiên cứu năm trong độ tuổi 20-21 tuổi, chỉ có 15% ở dưới tuổi 18. Các nhóm tuổi phân bố khá đồng đều tại 3 trường.

Bảng 1: Tuổi của đối tượng khảo sát (%)

 

<18 tuổi

18 – 19 tuổi

20-21 tuổi

=>22 tuổi

Tổng số

Trường 1

23

28

40

8

33

Trường 2

7

17

54

22

34

Trường 3

15

24

54

6

33

Chung

15

23

49

12

100

 

Số nam sinh viên tham gia nghiên cứu cao hơn nữ. 59,4% là nam, 40,6% là nữ.

1.2. Tình trạng hôn nhân

Kết quả cho thấy chỉ có 0,2% đối tượng khảo sát đã có vợ/chồng. Hầu hết (99,8%) là độc thân. Đây là một điểm cần lưu ý khi phát triển tài liệu truyền thông, giáo dục. Yếu tố hướng tới cuộc sống gia đình nghiêm túc, chung thủy và hạnh phúc cũng có thể cần được đề cập đến (có thể xem kỹ thêm trong phần phân tích về thái độ và hành vi liên quan đến tình yêu và tình dục)

1.3. Nơi xuất thân và nơi cư trú hiện tại

Trong nghiên cứu này, chỉ có 20% sinh viên là người Hà Nội, 80% đến từ tỉnh khác; 70% trong số họ đã sống tại Hà Nội từ 1 năm trở lên. Đây là một yếu tố cũng cần phải cân nhắc trong truyền thông vì có thể vấn đề văn hóa phong tục, điều kiện phát triển kinh tế của địa phương cũng ảnh hưởng nhiều đến lối sống, nhận thức của sinh viên.

Ban quản lý sinh viên cũng đề ra nhiều biện pháp nhằm quản lý sinh viên tại khu vực nội trú như có nội qui, thường xuyên kiểm tra. Tuy nhiên một điểm khác cần quan tâm là có tới 30% sống tại các nhà trọ thuê nằm rải rác trong các nhà dân, Nhà trường hầu như không có quản lý. Nhà trường chỉ có thông tin về số học sinh này nếu họ gặp các vấn đề liên quan đến pháp luật.

1.4. Cách sử dụng thời gian rỗi của sinh viên

Tình hình sử dụng thời gian rỗi của sinh viên khá khác nhau giữa các trường, có thể một phần do điều kiên vật chất và sự khác biệt về thế mạnh về giới ở mỗi trường, ví dụ tỷ lệ “chơi thể thao” ở trường 2 (nơi có nhiều SV nữ) thấp hơn hẳn so với ở trường 3 (nơi có nhiều SV nam). Tỷ lệ "đọc sách báo" hay "xem TV" là cao nhất trong các khả năng lựa chọn

Vào mạng internet cũng là thú vui của 1/3 sinh viên được hỏi. Tuy nhiên, việc vào mạng nhiều khi chỉ để "chát" hay trao đổi e-mail. Có tới 90% sinh viên trả lời có vào internet trong 4 tuần qua nhưng 73% là để chát, 51% là để gửi thư hay lấy thông tin phục vụ cho việc học tập. Chỉ có 15% vào mạng để tìm kiếm các thông tin về giới tính, tình dục.

Việc đánh bài để giết thời gian cũng là một vấn đề, 6% sinh viên Trường 1 và 2% sinh viên tại Trường 2 và Trường 3 sử dụng thời gian rỗi cho thú giải trí này. Số liệu này có thể còn thấp hơn so với thực tế.

1.5. Những thói quen có hại

Thói quen hút thuốc lá (7%), uống rượu bia (35%) trong sinh viên khá phổ biến, nhất là các trường có nhiều sinh viên nam như Trường 3, nơi có trên 54% sinh viên được hỏi trả lời là họ có uống rượu bia trong 4 tuần qua và lý do là gặp gỡ bạn bè (70%) và vì công việc (21%). Đáng chú ý là 7% trả lời họ dùng rượu bia trong các bữa ăn hàng ngày.

Một vấn đề cũng cần lưu ý trong lối sống hiện tại của sinh viên, đó là hiện tượng xem phim sex khá phổ biến tại các trường.  Hầu hết là xem phim sex với bạn cùng giới (69%), một số xem một mình (45%). Đặc biệt ở trường 1 có 6% trả lời là xem phim sex với bạn khác giới, trong khi đó 7% ở trường 2 xem phim sex với người yêu.

Việc xem phim sex phổ biến có thể đã khiến cho nhiều bạn có quan hệ tình dục trước hôn nhân hoặc có thái độ chấp nhận với hành vi này.

2. Kiến thức, thái độ hành vi có liên quan đến HIV/AIDS

2.1. Kiến thức về HIV/AIDS/STIs

Nguồn thông tin về HIV/AIDS mà sinh viên có được chủ yếu là thông qua truyền thông đại chúng TV (94%), sách báo (89%), đài (62%), áp phích/tờ rơi (58%). Nguồn thông tin trực tiếp thấp hơn: qua trường học (52%), cán bộ y tế (19%), đoàn TN (39%), tuyên truyền viên (31%)...Với cơ cấu nguồn thông tin này cho thấy sinh viên sẽ thiếu các thông tin sâu mang tính hướng dẫn hành vi.

Cũng như nhiều nhóm dân cư khác tại Việt Nam, kiến thức về HIV/AIDS là khá cao trong nhóm sinh viên. Tất cả sinh viên được hỏi đều đã từng nghe nói về HIV/AIDS. Hầu hết biết rằng HIV lây qua quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn (99%), qua truyền máu (97%), qua dùng chung bơm kim tiêm (97%). Tuy nhiên, vẫn còn một số hiểu sai lệch về đường lây như lây qua "động chạm" (4%), qua hôn nhau (6%), ăn uống chung (2%), dùng chung nhà vệ sinh (3%) đặc biệt là có tới 12% cho rằng HIV lây truyền qua muỗi đốt, điều này cũng giải thích cho thái độ sợ tiếp xúc với người nhiễm HIV vì "nhỡ mình bị lây" của một số ít sinh viên.

Một hiểu biết sai lầm nữa của sinh viên rất cần được cải thiện đó là có tới 1 phần 3 số người được hỏi (32%) cho rằng có thể phòng tránh HIV bằng cách "chỉ quan hệ tình dục với người khỏe mạnh", quan niệm này nhiều khi sẽ dẫn tới việc lựa chọn hành vi QHTD không an toàn vì "tin tưởng" ở vẻ bề ngoài của bạn tình.

Kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) của sinh viên còn rất mơ hồ, họ có thể kể tên các loại bệnh nhưng không rõ về các triệu chứng và cách phòng bệnh.

Trong số sinh viên tham gia phỏng vấn, chỉ có 86% trả lời là có biết về BLTQĐTD, nhưng đa số họ chỉ biết tên các loại bệnh hay được nhắc đến như Giang mai (97%), Lậu (83%), HIV (98%) nhưng rất ít người biết đến các bệnh khác ví dụ sùi mào gà (31%), hạ cam (3%), mụn rộp sinh dục (36%), trùng roi (15%), viêm gan B (28%).

Việc tiếp tục cung cấp các kiến thức đầy đủ hơn về BLTQĐTD là rất cần thiết trong dự án này.

2.2. Thái độ và nhận thức đối với nguy cơ nhiễm HIV

Có đến 76% người được hỏi nghĩ rằng mình có nguy cơ nhiễm HIV (ở nam SV là 73% và nữ SV là 80%), không có sự khác biệt lớn giữa SV ngoại tỉnh và SV Hà Nội (75% so với 82%).

Nguyên  nhân chủ yếu có thể hiểu được là số sinh viên này đã "có nhiều bạn tình (11%) hay đã từng QHTD mà không dùng bao cao su (BCS) (20%). Một số khác lo lắng có thể bị nhiễm HIV qua việc dùng chung bơm kim tiêm hay dụng cụ y tế (18%)  hoặc do phải nhận máu truyền (58%). Hai nguyên nhân về sau này khá cao có thể nảy sinh nhận thức bị động trong phòng chống lan truyền HIV.

2.3. Thái độ và hành vi sử dụng ma tuý

Trong nghiên cứu định lượng, không một phiếu trả lời nào được ghi nhận là đã từng sử dụng ma túy. Tuy nhiên, có 3% trong số sinh viên được hỏi cho biết họ đã từng bị người khác mời/rủ sử dụng ma tuý (46% do bạn bè rủ rê, 38% là người quen và 15% là người lạ).

Bảng 2: Nguyên nhân cho rằng bản thân có nguy cơ nhiễm HIV (%)

Nguyên nhân

Giới tính

Nơi cư trú

Chung

Nam

Nữ

Hà Nội

Ngoại tỉnh

Vì có nhiều bạn tình

15,4

5,0

16,7

10,0

10,9

QHTD không dùng BCS

23,1

15,8

0,0

23,1

20,0

Tiêm chích

23,1

10,5

0,0

20,5

17,8

 

Hành vi sử dụng ma túy trong trường học đã được sinh viên phản ánh trong các phỏng vấn sâu hay thảo luận nhóm. Một số sinh viên thấy có bơm kim tiêm vứt nhiều trong nhà vệ sinh thì khẳng định có người chích ma tuý trong khu vực của trường nhưng không rõ là sinh viên của trường nào.

Mặc dù các trường đã có nhiều biện pháp kiên quyết và cứng rắn nhằm xử lý các trường hợp nghiện chích  ma túy trong sinh viên nhưng hiện tượng lén lút sử dụng ma tuý vẫn xảy ra tại cả 3 trường trong điều tra này.

2.4. Thái độ và hành vi quan hệ tình dục

Trong khi có 54% sinh viên được hỏi lựa chọn "không quan hệ tình dục" là một biện pháp phòng chống HIV/AIDS thì việc quan hệ tình dục trước hôn nhân trong sinh viên đã và đang là một vấn đề xã hội mà nhiều người rất quan tâm.

2.4.1 Vấn đề "sống thử" trong sinh viên. Hành vi "sống thử" thường xẩy ra tại một số khu vực nhà trọ, nơi sinh viên sống xa gia đình, không có sức ép dư luận từ các bạn cùng lớp hay kỷ luật nhà trường như ở trong Ký túc xá. Như vậy, có thể thấy hiện tượng quan hệ tình dục trước hôn nhân là một vấn đề xã hội cần được bàn đến. Sự chấp nhận quan hệ tình dục khá dễ dãi của một số bạn sinh viên nam nữ có thể dẫn đến các hậu quả xấu như có thai ngoài ý muốn, lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, đặc biệt là tăng nguy cơ lây nhiễm HIV.

2.4.2 Thái độ đối với tình yêu, hôn nhân và sự chung thủy

56% sinh viên được hỏi cho biết hiện họ đang có người yêu, chỉ có 26% trong số họ cho biết mức độ yêu nghiêm túc có thể dẫn đên hôn nhân, trên 7% trong số họ cho biết đã có quan hệ tình dục với người yêu, tỷ lệ này cao hơn hẳn trong nhóm sinh viên nam (10%).

Bảng 3: Hành vi quan hệ tình dục của sinh viên(%)

 

Theo nơi ở

Giới

Chung

SV ở với gia đình

SV trong KTX

SV ở nhà thuê

Nam

Nữ

Đã từng quan hệ tình dục

5,5

10,2

1,8

10,4

3,3

7,3

Đã từng QHTD với người không phải người yêu

1,2

2,7

0

3,0

0

1,8

Đã từng bị ép buộc QHTD

0

3,6

1,4

0,8

2,2

1,3

 

 Khi được hỏi, nếu đã có người yêu và đã có QHTD với người yêu thì có thể có QHTD với người khác không, có tới 59% người được hỏi trả lời là "có thể" và 20% khác thì không chắc chắn. Với con số này, có thể nhận thấy, "chung thủy" là một khái niệm không được chấp nhận ở nhóm này.

Điều đáng nói là không chỉ trong giai đoạn yêu đương sự thiếu chung thủy được chấp nhận mà cả khi được hỏi là đã lập gia đình, tỷ lệ những người cho rằng có thể có QHTD ngoài hôn nhân rất cao (65%). Tuy nhiên, việc chấp nhận bạn tình/vợ chồng của mình có QHTD với người khác có vẻ thấp hơn (40%). Có thể thấy thái độ với việc quan hệ tình dục trước và ngoài hôn nhân là rất "thoáng" của sinh viên. Chỉ có 22% người được hỏi trả lời là việc quan hệ tình dục với nhiều người trước hôn nhân là "hoàn toàn không chấp nhận được". Như vậy khái niệm chung thủy trong tình yêu và hôn nhân cần được thảo luận kỹ trong sinh viên.

2.4.3 Hành vi tình dục có nguy cao với HIV/AIDS: bán dâm, mua dâm và QHTD đồng giới

Một số sinh viên tham gia vào các tệ nạn xã hội vì lý do kinh tế. Đáng chú ý là có tới 2% sinh viên trả lời là họ đã từng có QHTD với người không phải người yêu mình, tỷ lệ này khá cao ở nhóm sinh viên sống với gia đình ở Hà Nội (12%). Có khoảng trên 1% cho biết họ đã từng bị ép buộc quan hệ tình dục, tỷ lệ này ở nữ cao hơn (2%). Một số sinh viên nam muốn thử khả năng tình dục của mình, họ đã chọn cách đi tìm gái mại dâm hay bạn tình không quen biết. Trong nghiên cứu này, có khoảng 3% người được hỏi trả lời là đã từng ôm hôn, vuốt ve một người cùng giới. Cũng như vậy, một vài sinh viên ở đây trả lời là đã từng quan hệ tình dục với người đồng giới và hầu hết trong số họ đã từng QHTD đồng giới qua đường hậu môn (số liệu này có thể không chính xác nên không được phân tích trong báo cáo này).

Đây là một vấn đề xã hội cần được lưu tâm vì rất nhiều nam sinh viên do ảnh hưởng của phim sex hay sự kích động của một số người có quan hệ tình dục đồng giới, một số nam sinh viên có thể trở thành "người bán dâm nam", gây ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi tình dục cũng như sức khỏe của họ.

Một điều đáng lưu ý nữa là khi được hỏi về đối tượng quan hệ tình dục lần đầu, có hơn 50% những người đã từng QHTD trả lời là có QHTD lần đầu với người yêu ở trường 3, 1/4 người trả lời phỏng vấn có quan hệ tình dục với mại dâm hay với người lạ mới gặp.

2.5. Thái độ và hành vi sử dụng bao cao su

Trong số người đã có quan hệ tình dục với người yêu (7%) chỉ có 73% có dùng bao cao su với mục đích tránh thai (82%) và phòng tránh bệnh LTQĐTD (60%) và HIV (60%). Một số bạn cho biết có nhiều bạn dùng BCS để tránh thai.

Lý do của việc không sử dụng BCS chủ yếu là: "không thích", "không thuận tiện khi mua BCS", "Sợ người khác biết" và "bạn tình không thích".

Rất nhiều sinh viên biết đến tác dụng của BCS như tránh thai, tránh lây nhiễm các bệnh LTQĐTD. Tỷ lệ sinh viên đã từng quan hệ tình dục có dùng bao cao su khá cao (73%). 100% những sinh viên đã từng QHTD với mại dâm có dùng BCS thường xuyên với đối tượng này nhưng tỷ lệ dùng BCS thường xuyên khi QHTD với bạn mới quen/người lạ thấp hơn (67%).

Tuy nhiên, một số sinh viên còn ngại ngùng khi nói đến bao cao su, coi bao cao su gắn với quan hệ tình dục không được chấp nhận.

Nhiều bạn còn cho rằng sự sẵn có của BCS có thể còn làm tăng số người có QHTD trước hôn nhân.

Có hai nhóm ý kiến trái ngược nhau về vấn đề có nên đặt thùng/hộp BCS tại trường học như "không nên đặt thùng BCS vì làm cho người ta dễ tò mò" hay "nên, vì người ta có thể tiếp xúc với nó nhiều hơn khi muốn có nó". Tuy nhiên , rất nhiều ý kiến đồng ý là nên có thùng/hộp/máy bán BCS tự động đặt ở những nơi kín đáo để SV dễ tiếp cận vì họ rất ngại khi đi mua bao cao su vì ngại "người bán hàng nhìn soi mói".

Ngoài những đề nghị đặt thùng/hộp hay máy bán BCS tự động tại trường, một số sinh viên còn đề nghị có thể bán BCS tận nơi (khu nhà ở của SV) để họ đỡ ngại khi đi mua. Có thể thấy sinh viên mong muốn được nhận/mua bao cao su một cách kín đáo và thuận tiện.

Hầu hết sinh viên chưa biết cách sử dụng bao cao su đúng cách, những kiến thức họ biết được là qua TV, sách vở hay tờ rơi, một số sinh viên cho biết họ chưa bao giờ nhìn thấy BCS, có 77% người được hỏi mong muốn được học về kỹ năng sử dụng BCS. Như vậy hướng dẫn thực hành sử dụng BCS phải được coi là một phần không thể thiếu trong các buổi truyền thông phòng chống AIDS cho sinh viên trong thời gian tới.

3. Các mong muốn của sinh viên

Đầu mỗi năm học, các trường đều dành 1 tuần để học nội qui và các vấn đề về tổ chức hay các bài giảng về tình hình chính trị. Một số trường sử dụng thời gian này để mời các chuyên gia về phòng chống AIDS đến và tổ chức các buổi truyền thông. Tuy đạt được một số hiệu quả nhất định nhưng hình thức truyền thông "diễn thuyết/thuyết trình" dường như không thu được hiệu quả cao vì đa số sinh viên đều không thích và cản thấy nhàm chán. Họ cần được cung cấp thông tin một cách sinh động hơn.

Sinh viên mong muốn có những buổi truyền thông mà qua đó họ được trao đổi thông tin và hiểu rõ hơn những điều mà họ còn thiếu.

Sinh viên rất thích các hoạt động văn hóa văn nghệ, nhất là tại trường Đại học Văn hoá, nơi mà sinh viên có thể sử dụng các khả năng về sân khấu, hội hoạ hay ca nhạc để chuyển tải các thông điệp truyền thông.

Muốn được tiếp cận trực tiếp và giao lưu với người nhiễm HIV cũng là một nhu cầu mà sinh viên cho rằng sẽ mang lại hiệu quả truyền thông lớn.

Một số sinh viên mong muốn được tiếp cận với dịch vụ tư vấn về HIV/AIDS dưới các hình thức, điện thoại nóng, trả lời câu hỏi trên  đài phát thanh hoặc có điểm tư vấn/truyền thông sẵn có trong trường (85% sinh viên được hỏi đồng ý với điểm này)

Có tới 91% sinh viên mong muốn được tham gia tập huấn về HIV/AIDS, nội dung tập huấn về HIV/AIDS (96%), các bệnh LTQĐTD (93%).

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1.         Kiến thức về HIV/AIDS/STIs của sinh viên đã có nhưng chưa đủ, cần chú trọng hơn nữa về chất lượng thông tin

Trong nội dung truyền thông, cần nêu rõ các đường không lây của HIV và các biện pháp phòng bệnh chủ động để tránh các thái độ thụ động vì cho rằng "nhỡ ra" có thể bị bệnh qua các con đường "không thể phòng trước được".

Các thông tin về bệnh lây truyền qua đường tình dục còn rất mơ hồ, sinh viên cần được hiểu rõ các dấu hiệu nhận biết của STD và mối liên quan của việc phòng/chữa STD với lây truyền HIV/AIDS.

2.         Cần lưu ý đến vấn đề giới trong truyền thông trực tiếp

Theo mong muốn của sinh viên, để có thể thoái mái trao đổi thông tin về tình yêu, tình dục, giới và bao cao su, có thể tổ chức các buổi truyền thông riêng cho từng nhóm nam và nữ. Nếu tổ chức vào các buổi truyền thông vào buổi tối thì có thể thực hiện tại phòng ở nội trú nam và nữ (khoảng 20 người/1 buổi sinh hoạt).

3.         Hình thức truyền thông cần đa dạng phong phú và phù hợp

3.1.      Văn hoá, văn nghệ:

Sinh viên tỏ ra rất hăng hái khi bàn đến các hoạt động truyền thông lồng ghép vào các chương trình văn hoá văn nghệ trong nhà trường. Đây là một thế mạnh của các trường đại học cần được khai thác.

Có thể tổ chức tại các trường đại học các cuộc thi vẽ tranh, sáng tác kịch, bài hát hay các điệu múa, màn trình diễn thời trang...có liên quan đến chủ đề tình yêu chung thủy, lối sống lành mạnh hay lên án các thói hư tật xấu và tệ nạn xã hội .

3.2.      Thi tìm hiểu

Học sinh rất thích tham dự các cuộc thi tìm hiểu kiến thức về các vấn đề xã hội và khoa học kỹ thuật. Dự án có thể  tổ chức cuộc thi viết hay thi nói (hỏi-đáp) về HIV/AIDS/STD lồng ghép với các vấn đề về xã hội giáo dục.

Thi truyền thông, giao lưu giữa các trường đại học tham gia dự án.

Các cuộc  giao lưu giữa các trường cũng rất quan trọng. Cuộc thi này có thể là cuộc thi giữa các nhóm truyền thông, cuộc thi tìm hiểu về HIV/AIDS/STD hay cuộc thi các chương trình văn nghệ có đề tài về HIV/AIDS.

3.3.      Thảo luận nhóm nhỏ từng lớp hay từng khu nội trú

Thảo luận nhóm nhỏ (20 người) là một hoạt động rất có giá trị trong truyền thông phòng chống AIDS cho sinh viên. Các tuyên truyền viên sau khi được tập huấn sẽ tổ chức các buổi thảo luận nhóm nhỏ trong 2 giờ ở tại các lớp học hay tại khu nhà ở nội trú. Việc thực hiện các buổi thảo luận nhóm này sẽ được các tuyên truyền viên lập kế hoạch và tổ chức sao cho phù hợp với lịch học tập và làm việc của sinh viên từng lớp.

3.5 Các hình thức truyền thông khác

- Bàn hay góc truyền thông về phòng chống HIV/AIDS/STD  cần được tổ chức trong trường (tại ký túc xá hay Phòng Sinh hoạt Đoàn) để cung cấp các thông tin cần thiết mỗi khi sinh viên muốn tìm hiểu. Các tài liệu về HIV/AIDS/STD, các biện pháp tránh thai, bao cao su, các địa chỉ tư vấn, địa chỉ xét nghiệm, địa chỉ khám và điều trị các bệnh LTQĐTD, địa chỉ các Web sites về SKSS, HIV/AIDS/STD cần sẵn có tại bàn/góc truyền thông.

- Có thể đặt một hòm thư tại chỗ kín đáo để thu nhận các câu hỏi giấu tên về HIV/AIDS/STD và SKSS. Thư trả lời có thể gửi đến địa chỉ cá nhân, dán tại góc thông tin hay trả lời qua loa truyền thanh KTX.

- Có thể cung cấp địa chỉ của một số địa chỉ tư vấn qua điện thoại để sinh viên có thể được giải đáp các vấn đề chung.

4.         Tổ chức các dịch vụ hỗ trợ, khuyến khích hành vi an toàn

4.1.      Cần tổ chức mạng lưới các dịch vụ tư vấn, khám chữa các bệnh LTQĐTD, tư vấn xét nghịêm HIV, các dịch vụ sức khỏe sinh sản... sẵn có tại khu vực xung quanh các trường và trên địa bàn Hà Nội. Địa chỉ của các dịch vụ này cần được thông báo rộng rãi cho sinh viên thông qua cung cấp tài liệu, đặt ở bàn hay dán trên tường các bàn thông tin. Việc này là rất cần thiết nhằm cung cấp cho sinh viên các địa chỉ chuyên môn đáng tin cậy để họ có thể tiếp cận các dịch vụ này khi cần.

4.2.      Phân phối bao cao su miễn phí thông qua các hộp bao cao su hay tổ chức máy bán BCS tự động (kết hợp với công ty EZY vending và Tổ chức DKT). Như đã nêu ở trên, có thể giao cho sinh viên khoa/trường kinh tế chuẩn bị kế hoạch và tổ chức thực hiện việc bán tiếp thị xã hội bao cao su tại các trường (có thể coi đây là 1 điểm bán không truyền thống của DKT, 1 phần tiền thu được sẽ dành cho người tham gia).

Tổ chức các họat động truyền thông (thi vẽ tranh quảng cáo, cổ động, biểu diễn thời trang, thi tìm hiểu) về bao cao su để tạo hình ảnh thân thiện về bao cao su trong sinh viên.<


* Điều phối viên dự án “Phòng lây nhiễm HIV cho sinh viên.

[1] Tham khảo báo cáo nghiên cứu SAVY hay Bộ Y tế-2005