LAO ĐỘNG DI CƯ VÀ LAO ĐỘNG NỮ DI CƯ

Phụ nữ chiếm gần một nửa số người di cư quốc tế trên thế giới (tổng số tới 95 triệu người). Số lượng người di cư ở khu vực Đông Nam Á đã tăng từ 4% vào những năm 1980 lên gần 40% vào cuối những năm 1990.

Những người lao động di cư nghèo và không có kĩ năng, tay nghề ra nước ngoài – nam cũng như nữ - phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình di cư. Tuy nhiên, lao động nữ di cư gặp phải những nhiều thách thức khác so với nam giới. Phụ nữ gặp rất nhiều bất lợi. Sự bất lợi này có cơ sở từ bất bình đẳng giới, những định kiến rập khuôn về giới và càng tăng nặng đối với những lao động nữ di cư ở khu vực không chính thức do ít nhận được hay không có sự bảo vệ của pháp luật.

Trong số 6 triệu người lao động di cư ở châu Á, có khoảng một phần ba là lao động “không chính thức” do họ nhập cảnh vào một quốc gia khác không qua quy trình nhập cảnh chính thức hoặc họ ở lại quá hạn hoặc không có giấy phép làm việc hợp pháp. Nhiều người trong số lao động di cư không chính thức là phụ nữ. Dù vị trí làm việc của họ là không chính thức nhưng giống như các lao động khác, họ vẫn được hưởng những quyền lợi cơ bản ở nơi làm việc (Công ước ILO số 111). Nhưng dường như họ được hưởng ít nhất những quyền này.

Ở nhiều nước ASEAN, kiều hối ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc đóng góp vào nền kinh tế. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), lượng kiều hối do công dân các nước ASEAN đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước đã vượt mức 10 tỷ đô la Mỹ năm 2005. Lượng kiều hối gửi về đã đóng góp đáng kể vào tổng thu nhập quốc nội (GDP) của các nước cung ứng lao động, đặc biệt với trường hợp Phi-líp-pin cao đến 12,9% GDP.

Những nghĩa vụ của các quốc gia thành viên ASEAN

Tất cả 10 quốc gia thành viên ASEAN đã phê chuẩn Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) là Công ước đã xác định khái niệm và chuẩn mực nhằm tạo sự bình đẳng, không phân biệt đối xử với tất cả phụ nữ, trong đó có nữ lao động di cư (Điều 1)

Ủy ban CEDAW đã giải thích thêm về những nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của lao động nữ di cư. Khuyến nghị chung CEDAW số 26 (năm 2008) nêu:

·           Các quốc gia thành viên phải đảm rằng Hiến pháp và pháp luật dân sự cũng như các quy định của pháp luật lao động cho lao động nữ di cư có cùng những quyền và được bảo vệ như tất cả những người lao động khác trong nước, trong đó có quyền tổ chức và tự do kết giao.

·           Các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng những hợp đồng đưa lao động nữ đi làm việc ở nước ngoài có giá trị pháp lý.

·           Đặc biệt, các quốc gia thành viên phải đảm bảo rằng những ngành nghề có số đông lao động nữ như giúp việc gia đình và một số hình thức giải trí được luật lao động bảo vệ với các quy định về tiền lương, giờ làm việc, quy định về sức khỏe và an toàn lao động, nghỉ lễ tết và nghỉ phép.

Các văn bản luật này phải bao gồm những cơ chế để giám sát các điều kiện ở nơi làm việc của lao động nữ di cư, đặc biệt ở những loại công việc mà họ chiếm số đông (các điều 2a, f và 11).

Để bổ sung Công ước CEDAW, một số nước ASEAN cũng đã phê chuẩn các công ước khác của ILO nhằm giải quyết vấn đề quyền của lao động di cư. Những công ước đó liên quan tới Tự do kết giao và thỏa ước tập thể (Công ước số 87), Xóa bỏ lao động cưỡng bức và ép buộc (Công ước số 29 và Công ước số 105), Trả công bình đẳng (Công ước số 100), Xóa bỏ phân biệt về việc làm và nghề nghiệp (Công ước số 111), Tiền lương tối thiểu và xóa bỏ tất cả các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Công ước số 138 và Công ước số 182), Di cư tìm việc làm (Công ước số 97) và Công ước bổ sung về Lao động di cư (Công ước số 143).

Các quốc gia thành viên ASEAN đã ký Tuyên bố về bảo vệ và thúc đẩy những quyền của người lao động di cư. Các nghĩa vụ của những quốc gia thành viên ASEAN là:

·           Cung cấp cho tất cả những người lao động di cư sự tiếp cận đầy đủ với hệ thống luật pháp và tư pháp.

·           Tạo điều kiện để các nhà chức trách lãnh sự hoặc ngoại giao của nước gửi lao động được thực hiện chức năng lãnh sự bằng bất cứ cách nào khi người lao động di cư của nước họ bị bắt hoặc đưa vào tù hoặc bị tạm giữ.

·           Hình thành các chính sách và thủ tục nhằm tạo điều kiện cho việc tuyển dụng, chuẩn bị đi lao động nước ngoài, bảo vệ lao động di cư cũng như hồi hương và tái hòa nhập về nước gốc cũng như các mặt khác của lao động di cư.

·           Thành lập và thúc đẩy các chuẩn mực pháp lí để điều chỉnh hoạt động tuyển dụng lao động đi làm việc ở nước ngoài .

Xây dựng những cơ chế nhằm xóa bỏ các hình thức tuyển dụng bất hợp pháp.

Những thực tế về lao động nữ di cư

Một đặc điểm của di cư quốc tế để tìm việc làm trong vài thập kỷ gần đây là sự gia tăng số lượng lao động nữ di cư từ các nước ASEAN đi nước ngoài lao động. Tại In-đô-nê-si-a và Phi-líp-pin, số lượng lao động nữ di cư đã vượt xa số lượng lao động nam, con số thống kê số lượng lao động nhập cư chính thức vào Thái Lan cho thấy lao động nữ từ Mi-an-ma chiếm 46% tổng lượng lao động Mi-an-ma nhập cư vào Thái Lan và lao động nữ từ Lào là 53%.

Trong khi lao động nữ di cư được tuyển mộ từ cả nhóm có tay nghề và nhóm không có tay nghề thì đa phần trong số họ tập trung trong những công việc có vị trí thấp trong hạng mục các nghề. Điều này dẫn tới việc họ:

-          Bị lạm dụng.

-          Bị bóc lột như làm các việc có thu nhập thấp, điều kiện làm việc nghèo nàn và kéo dài thời gian.

-          Thiếu  sự bảo vệ của luật pháp (nhiều công việc trong khu vực không chính thức không được thừa nhận là “việc làm” trong luật pháp quốc gia).

-          Bị bạo lực trong tay công ty tuyển dụng, chủ sử dụng lao động hoặc các tổ chức khác trong quá trình di cư.

-          Dễ bị lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh khác.

-          Mất thu nhập đã kiếm được do sử dụng các kênh chuyển tiền bất hợp pháp.

-          Nghèo và việc thiếu cơ hội kiếm thu nhập ở nước gốc buộc đẩy nhiều người lao động tiếp tục quay trở lại vòng di cư.

Đa số lao động nữ di cư thường nghèo và trẻ, tuổi từ 20 đến 39 tuổi khi di cư.

Họ có xu hướng làm việc tại các khu vực không được điều chỉnh và thường không được tuyển mộ qua những kênh hợp pháp. Họ thường tập trung làm việc tại các cụm nghề “của phụ nữ” như lao động giúp việc gia đình, điều dưỡng viên và chăm sóc người bệnh, các công việc phục vụ vệ sinh, làm việc tại ngành giải trí và phục vụ tình dục. Ngoài ra họ còn làm việc ở ngành nông nghiệp, bán lẻ, các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều lao động như ở những nhà máy nhỏ, các xưởng sản xuất trả công lao động rẻ mạt.

Lao động nữ di cư thường “không được tính” trong các số liệu thống kê chính thức.

Thông thường từ xa xưa, phụ nữ vẫn được coi là “vợ đi cùng” và không phải là lao động di cư độc lập. Hơn nữa, các số liệu thường chỉ tập trung thống kê những công việc chính thức theo hợp đồng tạm thời hoặc theo các chương trình nhập cư hợp pháp. Những phụ nữ đi theo các kênh không chính thức không được tính trong các số liệu thống kê chính thức. Số liệu thu được thường không được tách biệt theo giới.

Lao động nữ di cư thường thiếu tiếp cận thông tin về các quá trình pháp lí, những thủ tục và luật pháp lao động ở nước đến lao động. Điều này càng khiến họ dễ có nguy cơ bị lạm dụng và bị bóc lột.

Chi phí di cư lao động đặc biệt cao đối với lao động nữ không có tài sản hoặc có ít tài sản hơn lao động nam. Nhiều phụ nữ phải vay mượn họ hàng hoặc bạn bè, người thân hoặc vay với lãi suất cao từ những người cho vay chuyên nghiệp. Một số phụ nữ còn tham gia các chương trình “vay bây giờ- trả tiền sau”, càng khiến họ rơi vào cảnh nợ nần. Nhiều nghiên cứu cho thấy vào năm 2003, những người lao động In-đô-nê-si-a chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài đã phải trả tổng cộng 193,5 triệu đô la Mỹ cho các tổ chức tham gia tuyển dụng, xác nhận và đưa họ đi nước ngoài làm việc.

Phân biệt giới đối phụ nữ và trẻ em gái là sự phủ nhận các quyền con người. Sự phân biệt như vậy là nguyên nhân di cư nhằm đáp ứng các nhu cầu sống tối thiểu và là kết quả của các vi phạm về quyền con người trong quá trình di cư. Bảo vệ và tăng quyền năng cho lao động nữ di cư là thúc đẩy bình đẳng giới, phát huy quyền con người, đảm bảo sự phát triển con người và quản trị quốc gia tốt. Phân biệt đối xử, bạo lực và bóc lột lao động nữ di cư cản trở sự phát triển con người. Điều đó gây hại không chỉ cho các nạn nhân của sự bóc lột mà còn tác động xấu tới hiệu quả sản xuất của nền kinh tế nước gửi và nước nhận lao động.

 NGỌC BÌNH

Nguồn: Quỹ Phát triển phụ nữ của Liên Hợp Quốc